Mới nhất Tin nóng Media Magazine Infographic Tin ảnh

Nghĩ về giáo dục vùng cao

14:30, 26/12/2011
Nghệ An có 5 huyện vùng cao với diện tích trên 8.644 km2, chiếm gần 53% diện tích cả tỉnh; đó là chưa kể 29 xã vùng cao thuộc các huyện miền núi. Theo số liệu thống kê của Sở Giáo dục và Đào tạo Nghệ An tại thời điểm tháng 5 năm 2011, dân số của 5 huyện vùng cao là 328.514 người, trong đó có 284.341 người là đồng bào dân tộc ít thiểu số.

 

 

HS vùng cao Nghệ An (Ảnh: Nguyễn Như Khôi)

 

 

Thời gian qua, kinh tế vùng cao được tập trung đầu tư và có nhiều khởi sắc, đời sống đồng bào vùng cao có bước phát triển khá nhưng vẫn còn gian nan. Chỉ trừ khoảng 2.000 học sinh dân tộc ít người được hưởng tiêu chuẩn “học sinh dân tộc nội trú” của Nhà nước, còn lại, đại bộ phận không thuộc diện này nên cha mẹ các em gần như phải lo hoàn toàn. Số em ở gần trường còn tạm được, số ở xa trường, phải ở lại trường, mà ta quen gọi là bán trú, đang hết sức vất vả. Chỗ ở của các em là những túp lều mà cha mẹ dựng tạm cho bằng cây rừng, ngày nắng còn đỡ, cực nhất là mùa mưa rét. Cha mẹ chỉ lo được cho các em mấy bát cơm (độn ngô, khoai, sắn), thức ăn thì gần như không có gì. Ngoài giờ học, nhiều em phải đí hái rau rừng, đi bẻ măng, kiếm củi rồi về tự nấu ăn. Xin đừng nói đến chuyện ăn để bồi bổ, phát triển trí não. Các em chưa có để ăn cho đủ no, nói gì đến chuyện đó. Tuổi như các em, ở thành phố, cha mẹ còn phải đưa đón đi học, phải phục vụ đủ thứ. 

Khổ là thế, vất vả, gian nan là thế, nhưng đồng bào vẫn mong muốn con mình biết chữ. Trước đây, vận động trẻ em dân tộc ít người đến trường quả là điều nan giải, nhưng bây giờ khác nhiều rồi. Không phải ở phổ thông mà ngay mầm non cũng khác. Theo một thống kê của Sở Giáo dục và Đào tạo Nghệ An, tại thời điểm tháng 5 năm 2011,  trên 82% trẻ trong độ tuổi mẫu giáo ở vùng cao đã đến trường. Bây giờ, số lượng học sinh đi học không phải là chuyện đáng lo. Cái đáng lo hơn cả là chất lượng giáo dục. Và, vài ba năm nay, các trường vùng cao, nhất là các trường tiểu học đang tập trung sức cho vấn đề khó khăn này bằng việc đổi mới giáo dục. Tuy vậy, đổi mới giáo dục, trước hết là cần nhận thức, cần tấm lòng của cán bộ quản lý giáo dục, của cán bộ quản lý nhà trường, của các thầy cô giáo. Tất nhiên phải có điều kiện về cơ sở vật chất, nhưng thực tế, nhiều nội dung đâu cần nhiều tiền mới đổi mới được. Đơn cử như giáo dục tiểu học. Đổi mới giáo dục tiểu học trong giai đoạn này không phải là cái gì ghê gớm cả; thực chất chỉ là khắc phục việc dạy văn hoá thuần tuý, tăng cường tổ chức giáo dục toàn diện cho học sinh để hình thành, phát triển nhân cách của các em, đáp ứng đúng yêu cầu mà Luật Giáo dục 2005 đề ra là “giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản để học sinh tiếp tục học trung học cơ sở”. Mà giải pháp thì có rồi, đó là tổ chức nghiêm túc và có chất lượng chương trình giáo dục ngoài giờ lên lớp và giáo dục kỹ năng sống cho học sinh. Thực tế hai năm nay, các huyện vùng cao Quỳ Châu, Con Cuông làm rất tốt, trong khi thành phố Vinh và một số huyện đồng bằng đang ì ạch theo sau. Tập thể Phòng Giáo dục Tiểu học, Sở Giáo dục và Đào tạo Nghệ An đánh giá: về đổi mới giáo dục tiểu học, Vinh và một số huyện miền xuôi hiện chưa thể so được với Quỳ Châu, Con Cuông; ở Vinh, chỉ có Trường Tiểu học Hưng Lộc là có thể so được với các trường vùng cao Quỳ Châu. Quỳ Châu, Con Cuông làm sao có điều kiện về cơ sở vật chất và đội ngũ bằng Vinh, nhưng họ vẫn đổi mới tốt.  

Nói như thế, không phải không cần điều kiện cơ sở vật chất. Điều kiện không tốt, không thể có chất lượng cao. Học sinh ở miền xuôi, thời gian ở nhà được chăm sóc chu đáo, đầy đủ, được sống trong mội trường tốt. Học sinh vùng cao đâu được như thế. Điều kiện ở trường cũng vậy, cách nhau quá xa. Để chất lượng giáo dục vùng cao được nâng lên, thiết nghĩ Nhà nước nên có chính sách đầu tư nhiều hơn nữa cho các nhà trường ở đây. Mấy năm nay Nhà nước đã đầu tư xây dựng phòng học, nhưng đó mới chỉ là cái vỏ, cần phải đầu tư mạnh cho trang thiết bị - phần ruột - phần tác động trực tiếp đến từng bài học, tác động trực tiếp đến chất lượng. Về đời sống học sinh, Nhà nước ta còn nghèo, chưa thể hỗ trợ vào từng bữa ăn cho học sinh, nhưng cũng nên nghiên cứu đầu tư để các em có nhà ở bán trú ngay cạnh trường.

Một lần lên vùng cao Kỳ Sơn. Từ cửa khẩu biên giới Việt-Lào đi về được độ 15 cây số, thấy lán học gần đường, chúng tôi ghé vào. Lúc này khoảng 5 giờ chiều, nhưng sương đã giăng mù trời. Trong hai gian nhà tranh nhỏ xíu, chỉ có một cô giáo đang ngồi sưởi bên bếp lửa. Cách độ 100 mét, ở sườn núi bên cạnh, một nhà tranh chia thành ba phòng học nhưng nhìn rất tạm bợ. Xa hơn nữa, khoảng 300m, 400m, lác đác mới có nhà sàn của dân. Hỏi chuyện, cô giáo cho biết, đây là lớp lẻ của Trường Tiểu học Nậm Cắn. Học sinh chỉ có vài chục em, học theo kiểu lớp ghép. Điểm này có 2 cô giáo, nhưng một cô đang lên trường nhận phấn. Cô đi từ lúc 2 giờ chiều, tối nay phải ngủ trên đó, sớm mai mới về. Có lẽ đây chỉ là một chấm nhỏ trong hàng loạt khó khăn của giáo viên vùng cao. 

Nhiều người nghĩ chất lượng giáo viên vùng cao là kém. Họ cho rằng các trường vùng cao là nơi đón nhận những sinh viên không đủ trình độ để ở miền xuôi. Đâu phải thế. Có chăng, điều đó đúng với việc họ không có các điều kiện để xin ở miền xuôi, trừ điều kiện chất lượng học tập của chính họ. Xin đừng nghĩ giáo viên vùng cao là kém cả. Họ chỉ không có điều kiện để thể hiện năng lực giảng dạy của mình như ở miền xuôi, ở thành phố mà thôi. Tôi còn nhớ, trong một lần thi giáo viên môn Ngữ văn trung học cơ sở dạy giỏi cấp tỉnh, cả Nghệ An có 2 người đạt điểm tối đa 10/10 (nếu không nhầm, đây cũng là điều duy nhất trong khoảng 40 năm qua), thì một người dạy ở Vinh và  một người dạy ở vùng cao Tương Dương. Mới tháng 11 năm 2011 vừa rồi, người đạt giải cao nhất trong cuộc thi Lập kế hoạch bài giảng ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học tích cực do Sở Giáo dục và Đào tạo Nghệ An tổ chức, không phải ở thành phố, miền xuôi mà lại là một giáo viên vùng cao Kỳ Sơn. Hãy tin tưởng vào phẩm chất và năng lực của giáo viên vùng cao, hãy tạo điều kiện cho họ, giúp họ không bị lạc hậu với cái mới, nhất định họ sẽ làm nên chuyện.    

 

Hiện nay, đối với giáo viên, điều không thu hút được họ lên vùng cao công tác, không phải vì tiền lương mà là vì điều kiện sống. Các thầy cô giáo ở các trường vùng cao, giống như ở trên ốc đảo. Muốn mua sắm một cái gì cũng rất khó khăn, phải cần đến hai, ba ngày để băng rừng ra thị trấn. Ngay việc ở bản lẻ, muốn đến điểm chính của trường cũng phải mất hàng buổi, hàng ngày. Lên vùng cao công tác, các thầy cô giáo gần như biệt lập với tình hình sôi động của xã hội hiện nay, báo chí không có, tài liệu tham khảo không có, phương tiện nghe nhìn cũng không. Cái thiếu nhất hiện nay của giáo viên vùng cao có lẽ là điều kiện để tổ chức cuộc sống tinh thần. Để khắc phục tình hình này, phải có bàn tay của Nhà nước chứ từng địa phương không làm được. Nhà nước đã và đang thực hiện chương trình xây nhà công vụ cho giáo viên vùng cao, nay nên nghiên cứu để đầu tư cho các trường vùng cao về trang  thiết bị phục vụ đời sống tinh thần cho thầy và trò; trước mắt là tập trung đầu tư mua sắm phương tiện để giáo viên có điều kiện tiếp cận được thông tin một cách nhanh chóng.     

 

Giáo dục vùng cao Nghệ An đã và đang chuyển mình, đang rút ngắn dần khoảng cách so với giáo dục miền xuôi. Nếu như có sự đầu tư đúng đắn và mạnh mẽ hơn của Nhà nước, chắc chắn giáo dục vùng cao Nghệ An sẽ sớm đơm hoa và kết nhiều trái ngọt. 

(Minh Đức)