Hương men bản làng lên phố
![]() |
| Văn hóa rượu cần được nhân rộng, trở nên phổ biến hiện nay, nhất là những buổi liên hoan, gặp mặt vào dịp lễ, Tết. Ảnh: T.P |
Với người Thái, rượu cần không đơn thuần là thức uống. Đó là nghi thức, là lễ nghĩa, là nét văn hóa truyền thống gắn kết cộng đồng. Ngày Tết, bên mâm cúng tổ tiên, bên bếp lửa hồng hay trong những đêm hội mừng Xuân, chóe rượu cần đặt giữa nhà sàn như một lời mời gọi thân tình. Uống rượu cần là cùng nhau quây quần, cùng cúi xuống một chum rượu, cùng nâng cần trúc để chia sẻ niềm vui, nỗi buồn, để gắn bó thêm tình làng nghĩa bản.
Rượu cần hiện diện trong hầu hết các sinh hoạt quan trọng của người Thái: Từ lễ cúng thần linh, mừng nhà mới, cưới hỏi, đón khách quý đến những ngày Tết cổ truyền. Người uống rượu cần phải tuân theo “luật uống”, không tranh cần, không uống vội, uống theo thứ bậc, theo vòng, để thể hiện sự tôn trọng lẫn nhau. Chính những quy ước ấy làm nên không khí lễ hội ấm cúng, chan hòa và rất riêng của miền sơn cước.
Ngày nay, hương men núi rừng không chỉ dừng lại ở các bản làng người Thái. Trên các sạp hàng miền xuôi, trong quầy tạp hóa hay gian hàng đặc sản phục vụ quà biếu cuối năm, những vò rượu cần được bày bán ngày càng nhiều, mang theo mùi men lá rừng, nếp nương và hương vị đặc trưng của miền sơn cước. Nhiều cơ quan, đơn vị cũng chủ động đặt hàng để phục vụ các buổi liên hoan, tiệc tất niên.
![]() |
| Khách đến tận nhà dân ở Chòm Muộng để đặt mua rượu cần Tết. Ảnh: K.L |
Anh Nguyễn Duy Nam – Giám đốc một công ty dược phẩm ở phường Thành Vinh chia sẻ: “Tất niên năm nay, các chi nhánh đều tổ chức liên hoan, vui ca hát nên tôi đặt tới 20 chum rượu cần, tổ chức đốt lửa trại. Chọn rượu cần không chỉ vì hương vị đặc trưng, mà còn bởi cách uống rượu cần giúp mọi người quây quần, cùng nâng cần chia sẻ niềm vui, nỗi buồn. Không khí quanh chum rượu trở nên gần gũi, thân tình hơn, tạo cảm giác gắn kết giữa các đồng nghiệp”.
Nhu cầu tăng mạnh vào dịp cuối năm cũng được ghi nhận ở các đại lý kinh doanh. Chị Trương Tuyết Oanh, một đại lý bán rượu cần ở xã Đại Đồng cho biết, càng cận Tết, lượng khách đặt càng nhiều. Từ các tổ dân cư, khối, xóm đến các cơ quan, đơn vị đều đặt rượu cần cho tiệc cuối năm. Để đáp ứng nhu cầu tăng cao, chị Oanh phải liên hệ đặt hàng từ các cơ sở sản xuất rượu cần từ sớm, chọn những mẻ rượu đạt chất lượng, đảm bảo hương men đặc trưng của bản làng. “Khách hàng đặt từ trước cả tuần, thậm chí cả tháng, nên tôi phải lên kế hoạch từ sớm, để khi họ cần là có sẵn. Tôi thường nhập rượu cần của đồng bào Thái ở Tiên Đồng, Mậu Thạch và Tương Dương, đảm bảo rượu giữ được hương vị nguyên bản, chuẩn men lá rừng. Qua đó, vừa đáp ứng nhu cầu thưởng thức của người miền xuôi, vừa góp phần lan tỏa nét văn hóa độc đáo của đồng bào Thái”, chị Oanh chia sẻ.
Tất bật vào vụ sản xuất
![]() |
| Men để ủ rượu cần là những thảo dược được hái từ rừng về. Ảnh: T.P |
Ở bản Phảy Thái Minh, xã Tiên Đồng, nghề làm rượu cần đã gắn bó với người Thái qua nhiều thế hệ. Đây cũng là nơi sản phẩm rượu cần Tiên Đồng được công nhận OCOP hạng 3 sao, có mã số, mã vạch, tem truy xuất nguồn gốc rõ ràng. Điều đáng nói, dù đã “bước ra thị trường”, rượu cần nơi đây vẫn giữ trọn cách làm truyền thống. Trước kia, do cuộc sống khó khăn, người Thái ở Thái Minh làm rượu cần từ sắn hoặc gạo tẻ. Nay, nguyên liệu chủ yếu là gạo nếp nương truyền thống, thứ nếp thơm dẻo, chỉ trồng trên nương rẫy vùng cao.
Men rượu được làm từ lá nhâm, lá quế và nhiều loại lá rừng khác, xay nhỏ, trộn theo tỷ lệ bí truyền rồi ủ kỹ trong rơm. Bà Võ Thị Thu, người có gần 40 năm kinh nghiệm làm rượu cần ở Thái Minh chia sẻ, làm rượu cần không khó nhưng để ngon thì rất công phu. Từ khâu chọn trấu mới, sàng sạch, ngâm rửa nhiều lần, đến việc hông cơm nếp, trộn men, ủ rượu… mỗi công đoạn đều đòi hỏi sự tỉ mẩn và kinh nghiệm. “Chỉ cần mở vò ra mà mùi thơm lan tỏa là biết men đạt. Nếu có mùi lạ hay chua là coi như hỏng”, bà Thu nói.
![]() |
| Rượu cần Tiên Đồng được thị trường ưa chuộng bởi độ thơm, ngon... Ảnh: T.P |
Rượu cần Thái Minh sau 3 tháng đã uống ngon, nhưng càng để lâu càng đậm đà. Có những chum được ủ cả năm, dành riêng cho ngày Tết hay lễ hội lớn. Cùng với rượu, người Thái còn rất coi trọng việc làm cần uống. Già làng Vi Văn Bích cho biết, từ việc chọn trúc, thông ruột cần, uốn cong, khoan lỗ đến phơi khô, gác bếp… tất cả đều phải đúng kỹ thuật. Chiếc cần đạt chuẩn vừa giúp rượu chảy đều, vừa giữ được hương vị đặc trưng.
Không chỉ Thái Minh, không khí vào vụ rượu cần cuối năm còn rộn ràng ở bản Chòm Muộng, xã Mậu Thạch. Những ngày này, các gia đình làm rượu cần ở đây gần như không có ngày nghỉ. Mọi khâu chuẩn bị nguyên liệu đã được làm trước đó cả tháng. Chị Ngân Thị Hành, một hộ làm rượu cần số lượng lớn ở Chòm Muộng cho biết: “Dịp Tết Dương lịch, tôi đã bán khoảng 100 bình, còn Tết Nguyên đán, lượng đặt tăng lên 200–300 bình do nhiều cơ quan, gia đình tổ chức liên hoan, đốt lửa trại đón giao thừa. Giá mỗi chum dao động từ 400.000 đến 600.000 đồng, tùy dung tích”.
![]() |
| Dự kiến Tết này, gia đình chị Ngân Thị Hành sẽ bán ra thị trường khoảng 300 vò rượu cần. Ảnh: T.P |
Hiện, cả bản có 12 tổ làm nghề, mỗi ngày sản xuất 50–60 vò rượu, doanh thu đạt 25–30 triệu đồng. Năm 2022, làng nghề rượu cần Chòm Muộng được công nhận là làng nghề truyền thống, đây là một dấu mốc quan trọng để nghề được bảo tồn và phát triển bền vững.
30 năm làm dâu bản, cũng là chừng ấy năm bà Ngân Thị Thơm gắn bó với nghề làm rượu cần. Từ vài vò rượu làm để dùng trong nhà, nay rượu cần Chòm Muộng đã trở thành sản phẩm được khách hàng khắp nơi tìm mua. Tổ sản xuất rượu cần do bà Thơm làm tổ trưởng có 12 thành viên. Dịp Tết là cao điểm nhất trong năm, bà Thơm cho biết: “Những ngày này, công việc bận rộn gấp đôi, gấp ba. Chúng tôi phải chuẩn bị từ khâu nếp, trấu đến ủ rượu trước cả tháng để kịp giao cho khách. Mỗi vò rượu đều phải đảm bảo thơm ngon, đúng hương men bản làng, mới phục vụ được nhu cầu lớn của khách dịp cuối năm”.
![]() |
| Người dân Chòm Muộng chuẩn bị lúa nếp, trấu để ủ rượu cần bán Tết. Ảnh: K.L |
Theo ông Ngân Đức Hợi - Trưởng bản Chòm Muộng, hương vị riêng của rượu cần nơi đây đến từ men lá rừng và nguồn nước bản địa. “Chính những yếu tố ấy làm nên sự khác biệt, không lẫn với rượu cần ở nơi khác, nhờ đó sản phẩm được thị trường ưa chuộng, tiêu thụ tốt. Nhờ nghề rượu cần, nhiều hộ trong bản có việc làm ổn định, thu nhập bình quân đạt 16–17 triệu đồng/người/năm, đồng thời giữ được nét văn hóa đặc trưng của cộng đồng”, ông Hợi khẳng định.
Tết đang đến rất gần. Trên những con đường quanh co dẫn vào bản làng miền núi Nghệ An, mùi rượu cần hòa quyện cùng hương nếp mới, khói bếp và tiếng cười rộn ràng. Những chum rượu ủ men lá rừng, nếp nương ấy không chỉ làm say lòng người trong ngày Tết, mà còn mở ra sinh kế, thắp lên hy vọng no ấm cho bà con nơi đại ngàn…









Thông tin bạn đọc
Đóng Lưu thông tin